Âm giai trưởng là chuỗi bảy nốt đi lần lượt theo công thức cung – cung – nửa cung – cung – cung – cung – nửa cung, rồi trở về nốt đầu ở quãng tám trên. Âm giai thứ tự nhiên dùng công thức cung – nửa cung – cung – cung – nửa cung – cung – cung. Chỉ cần nhớ hai công thức này và biết cung, nửa cung trên nhạc cụ của mình, bạn dựng được âm giai bắt đầu từ bất kỳ nốt nào.
Âm giai, nhiều người còn gọi là gam, là nguyên liệu của giai điệu và hợp âm. Hiểu âm giai giúp bạn biết vì sao bài này có dấu thăng, bài kia có dấu giáng, vì sao một nốt "lạc" nghe chói tai, và vì sao người dạy đàn nào cũng bắt tập gam hằng ngày.
Cung và nửa cung: đơn vị đo khoảng cách
Nửa cung là khoảng cách nhỏ nhất giữa hai nốt trong hệ thống âm nhạc phương Tây thông dụng. Trên piano, hai phím liền nhau bất kể trắng hay đen là cách nhau nửa cung. Trên guitar và ukulele, mỗi ngăn đàn là nửa cung. Một cung bằng hai nửa cung: cách một phím trên piano, hoặc cách hai ngăn trên guitar.
Điểm then chốt mà người mới hay bỏ qua: bảy nốt Đô Rê Mi Fa Sol La Si không cách đều nhau. Phần lớn các cặp liền kề cách nhau một cung, riêng Mi – Fa và Si – Đô chỉ cách nửa cung. Nhìn bàn phím piano sẽ thấy ngay: giữa Mi và Fa, giữa Si và Đô không có phím đen. Mọi phím đen khác nằm chen giữa hai phím trắng cách nhau một cung.
Mười hai nửa cung tạo thành một quãng tám. Đi từ Đô lên Đô kế tiếp, bạn bấm qua mười hai phím cả trắng lẫn đen, hoặc mười hai ngăn trên một dây đàn guitar. Con số mười hai này sẽ quay lại mãi trong mọi phép tính quãng, hợp âm và đổi tông.
Trên những nhạc cụ không có phím hay ngăn, như sáo, violin, giọng hát, cung và nửa cung phải được cảm bằng tai. Đó là lý do người chơi các nhạc cụ này cần luyện âm giai kỹ hơn: tay hoặc hơi thở phải tự tạo đúng khoảng cách mà phím đàn có sẵn.
Công thức âm giai trưởng và ví dụ
Viết công thức bằng C cho cung, N cho nửa cung: C – C – N – C – C – C – N. Bảng dưới áp công thức vào bốn âm giai đầu tiên người mới nên thuộc:
| Âm giai | Bảy nốt | Dấu hoá phát sinh |
|---|---|---|
| Đô trưởng | Đô Rê Mi Fa Sol La Si | Không có, toàn phím trắng |
| Sol trưởng | Sol La Si Đô Rê Mi Fa thăng | Một thăng: Fa thăng |
| Rê trưởng | Rê Mi Fa thăng Sol La Si Đô thăng | Hai thăng: Fa thăng, Đô thăng |
| Fa trưởng | Fa Sol La Si giáng Đô Rê Mi | Một giáng: Si giáng |
Thử kiểm Sol trưởng: Sol lên La một cung, La lên Si một cung, Si lên Đô nửa cung, Đô lên Rê một cung, Rê lên Mi một cung, Mi lên Fa chỉ có nửa cung nhưng công thức cần một cung, nên phải nâng Fa thành Fa thăng. Cuối cùng Fa thăng lên Sol đúng nửa cung. Dấu thăng ra đời từ chính nhu cầu khớp công thức.
Với Fa trưởng thì ngược lại: La lên Si là một cung, nhưng vị trí thứ ba trong công thức cần nửa cung, nên hạ Si thành Si giáng. Mỗi âm giai trưởng dùng đủ bảy tên chữ cái, mỗi tên một lần, nên ta viết Si giáng chứ không viết La thăng.
Ba dạng âm giai thứ
Thứ tự nhiên. Công thức C – N – C – C – N – C – C. La thứ tự nhiên gồm La Si Đô Rê Mi Fa Sol, dùng đúng các phím trắng như Đô trưởng nhưng bắt đầu từ La. Âm sắc trầm, man mác hơn âm giai trưởng vì nốt thứ ba chỉ cách chủ âm ba nửa cung thay vì bốn.
Thứ hoà âm. Lấy thứ tự nhiên, nâng nốt thứ bảy lên nửa cung. La thứ hoà âm có Sol thăng: La Si Đô Rê Mi Fa Sol thăng. Nốt Sol thăng nằm sát chủ âm La, tạo lực kéo mạnh về chủ âm, và cho phép dựng hợp âm Mi trưởng ở bậc năm. Khoảng Fa lên Sol thăng rộng ba nửa cung tạo màu sắc hơi phương Đông dễ nhận ra.
Thứ giai điệu. Khi đi lên, nâng cả nốt thứ sáu và thứ bảy: La Si Đô Rê Mi Fa thăng Sol thăng. Mục đích là làm giai điệu đi lên mượt hơn, tránh khoảng ba nửa cung của dạng hoà âm. Trong truyền thống nhạc cổ điển, khi đi xuống người ta trở về dạng tự nhiên; trong nhạc jazz, dạng đi lên thường được dùng cho cả hai chiều.
Dùng dạng nào khi tập. Người mới nên thuộc thứ tự nhiên trước, rồi thứ hoà âm, sau cùng là thứ giai điệu. Trong bài hát phổ thông giọng thứ, bạn sẽ thấy cả ba dạng đan xen: giai điệu thường dùng tự nhiên, còn hợp âm bậc năm thường là hợp âm trưởng lấy từ dạng hoà âm.
Giọng song song và giọng cùng tên
Mỗi âm giai trưởng có một âm giai thứ dùng chung đúng bộ nốt, gọi là giọng song song. Đô trưởng và La thứ cùng không có dấu hoá; Sol trưởng và Mi thứ cùng có Fa thăng; Fa trưởng và Rê thứ cùng có Si giáng. Cách tìm: từ chủ âm của giọng trưởng, đi xuống ba nửa cung là ra chủ âm của giọng thứ song song. Từ Đô xuống ba nửa cung là La; từ Sol xuống ba nửa cung là Mi.
Hai giọng song song dùng cùng nguyên liệu nhưng "trọng tâm" khác nhau. Một bài ở La thứ sẽ hay dừng câu và kết thúc ở La, hợp âm La thứ xuất hiện ở những chỗ quan trọng; bài ở Đô trưởng thì xoay quanh Đô. Vì vậy chỉ nhìn dấu hoá ở đầu bài chưa đủ để biết bài trưởng hay thứ; bạn phải nhìn thêm nốt và hợp âm kết.
Giọng cùng tên là hai giọng chung chủ âm nhưng khác loại: Đô trưởng và Đô thứ. Đô thứ tự nhiên có ba dấu giáng là Si giáng, Mi giáng, La giáng. Nhiều bài hát chuyển từ giọng thứ sang giọng trưởng cùng tên ở điệp khúc để tạo cảm giác bừng sáng; đó là thủ pháp đổi màu mà người chơi đệm hay gặp.
Bậc trong âm giai và tên gọi
Mỗi nốt trong âm giai được đánh số bậc bằng chữ số La Mã từ I đến VII. Một vài bậc có tên riêng mà bạn sẽ gặp trong sách và lời người dạy:
- Bậc I – chủ âm: nốt gốc, điểm nghỉ, nơi giai điệu thường kết thúc.
- Bậc IV – hạ át âm: nốt và hợp âm tạo cảm giác rời khỏi chủ âm một cách nhẹ nhàng.
- Bậc V – át âm: nốt và hợp âm tạo căng thẳng, muốn quay về chủ âm. Cặp V về I là chỗ kết câu quen thuộc nhất trong âm nhạc phương Tây.
- Bậc VII – cảm âm: trong âm giai trưởng, nốt này cách chủ âm chỉ nửa cung, nên tai nghe thấy nó "đòi" đi lên chủ âm.
- Bậc III và VI: quyết định màu trưởng hay thứ. Đổi bậc III từ trưởng sang thứ là đổi hẳn sắc thái của âm giai.
Khi đã quen gọi theo bậc, bạn nói được "giai điệu đi từ bậc ba xuống bậc một" mà không cần biết bài ở giọng nào. Cách nghĩ này cực kỳ hữu ích khi đổi tông hoặc hát bè.
Lỗi hay gặp khi dựng và tập âm giai
Dùng một tên chữ cái hai lần. Viết Rê trưởng thành Rê Mi Sol giáng Sol… là sai cách ghi, dù nghe đúng. Mỗi tên chữ cái phải có mặt đúng một lần; nếu thấy tên nào bị lặp và tên nào bị thiếu, hãy đổi dấu thăng thành dấu giáng hoặc ngược lại.
Quên hai chỗ nửa cung tự nhiên. Người mới thường coi Mi – Fa và Si – Đô cũng là một cung, nên dựng ra âm giai có nốt sai. Trước khi áp công thức, nhẩm lại chỗ nào trong bảy nốt gốc chỉ cách nửa cung.
Tập nhanh trước khi đều. Âm giai chơi nhanh mà không đều chỉ làm tay quen với sự lộn xộn. Tốc độ chậm, mỗi nốt dài bằng nhau, âm lượng bằng nhau là mục tiêu của những tuần đầu.
Chỉ tập đi lên. Chiều đi xuống thường yếu hơn vì ít được tập. Luôn chơi cả hai chiều, và thử bắt đầu từ nốt cao để chiều xuống được tập khi tay còn tươi.
Tập âm giai tách rời bài hát. Sau mỗi tuần tập một âm giai, hãy tìm một bài quen ở chính giọng đó và chơi giai điệu. Khi thấy những nốt vừa tập xuất hiện trong bài, âm giai không còn là bài tập khô khan.
Tập âm giai sao cho có ích
Tập gam không phải để khoe tốc độ mà để tay và tai thuộc khoảng cách. Một quy trình tập ngắn mỗi ngày:
- Chọn một âm giai mỗi tuần, bắt đầu từ Đô trưởng, rồi Sol trưởng, Fa trưởng, La thứ.
- Đọc to tên bảy nốt trước khi chơi, kể cả dấu hoá. Nếu chưa chắc, viết ra giấy và kiểm bằng công thức.
- Chơi chậm đi lên và đi xuống một quãng tám, với máy đếm nhịp, mỗi phách một nốt. Chú ý cảm giác hai chỗ nửa cung.
- Hát theo khi chơi, dù giọng không đẹp. Hát giúp tai ghi nhớ khoảng cách cung và nửa cung.
- Chơi âm giai theo kiểu nhảy quãng ba: Đô Mi, Rê Fa, Mi Sol… Đây là bước chuẩn bị cho hợp âm.
- Sau vài tuần, chọn một giai điệu đơn giản trong âm giai đó và thử dò bằng tai, chỉ dùng bảy nốt vừa tập.
Người chơi piano nên học thế ngón chuẩn cho từng âm giai từ đầu, vì sửa thế ngón sai về sau rất mất công. Người chơi guitar nên tập cùng âm giai ở hai ba vị trí trên cần đàn để thấy hình dạng của công thức.
Câu hỏi thường gặp
Âm giai và giọng có phải là một không?
Gần nhau nhưng không hẳn. Âm giai là chuỗi nốt sắp theo thứ tự cao độ. Giọng là trung tâm âm thanh của một bản nhạc, gồm chủ âm và hệ thống nốt, hợp âm xoay quanh nó. Bài ở giọng Sol trưởng chủ yếu dùng các nốt của âm giai Sol trưởng, nhưng vẫn có thể mượn nốt ngoài âm giai.
Ngũ cung có phải âm giai không?
Có, đó là âm giai năm nốt. Ngũ cung trưởng dựng từ Đô gồm Đô Rê Mi Sol La, tức âm giai trưởng bỏ bậc IV và bậc VII. Ngũ cung rất phổ biến trong dân ca nhiều nước, trong đó có Việt Nam, và trong nhạc blues, rock. Vì không có nửa cung nào, ngũ cung nghe mềm và khó chơi "sai".
Có bao nhiêu âm giai trưởng?
Về âm thanh có mười hai âm giai trưởng, ứng với mười hai nốt trong quãng tám. Về cách viết, có thêm vài cặp trùng âm như Fa thăng trưởng và Sol giáng trưởng, nghe giống nhau nhưng ghi bằng dấu khác. Người tự học nên thuộc trước những giọng ít dấu hoá, vì bài hát phổ thông chủ yếu nằm ở đó.
Vì sao âm giai thứ nghe buồn hơn?
Một phần do cấu trúc: nốt bậc III chỉ cách chủ âm ba nửa cung, hẹp hơn âm giai trưởng, làm hợp âm chủ thành hợp âm thứ. Một phần do thói quen nghe: người nghe trong truyền thống âm nhạc phương Tây quen gắn giọng thứ với nỗi buồn. Liên hệ này có thật nhưng không tuyệt đối; có rất nhiều bài giọng thứ sôi nổi.
Chơi guitar có cần tập âm giai không?
Nếu chỉ đệm hát bằng hợp âm thì không bắt buộc, nhưng tập vài âm giai giúp bạn chơi đoạn dạo, đoạn chuyển và tự dò giai điệu. Âm giai ngũ cung là điểm bắt đầu phổ biến với người chơi guitar vì dễ nhớ hình bấm và dùng được ngay để chơi theo nhiều bài.
Thuộc công thức rồi có cần học thuộc từng âm giai không?
Nên thuộc. Công thức giúp bạn tự dựng khi cần, nhưng khi chơi không có thời gian tính từng bước. Thuộc nốt và dấu hoá của các âm giai thường dùng giúp bạn đọc bài nhanh, nhìn bộ dấu hoá là biết ngay giọng, và tay tự tìm đúng phím.