Quãng là khoảng cách cao độ giữa hai nốt. Nó được gọi bằng hai phần: con số cho biết hai nốt cách nhau bao nhiêu bậc tên nốt, tính cả hai đầu, và tính chất như trưởng, thứ, đúng, tăng, giảm cho biết chính xác bao nhiêu nửa cung. Đô lên Mi là quãng 3 vì đi qua ba tên Đô, Rê, Mi; nó là quãng 3 trưởng vì rộng bốn nửa cung.
Quãng là viên gạch của mọi thứ phía sau: hợp âm là chồng quãng, âm giai là chuỗi quãng, giai điệu là dãy quãng nối nhau, hát bè là hát song song theo quãng. Người nghe ra quãng thì dò bài nhanh, hát chuẩn hơn và hiểu vì sao hai giọng hoà vào nhau hay cấn nhau.
Đếm con số quãng: tính cả hai đầu
Bước đầu tiên luôn là đếm tên nốt, bỏ qua mọi dấu thăng giáng. Từ nốt dưới, đếm lên tới nốt trên, tính cả nốt xuất phát. Đô lên Rê là quãng 2, Đô lên Mi là quãng 3, Đô lên Fa là quãng 4, Đô lên Sol là quãng 5, Đô lên La là quãng 6, Đô lên Si là quãng 7, Đô lên Đô kế tiếp là quãng 8, thường gọi là quãng tám. Hai nốt trùng nhau là quãng 1, còn gọi là đồng âm.
Cách đếm này nghe hơi lạ với người quen toán học, vì nó không bắt đầu từ số 0. Lý do lịch sử là người ta đếm số bậc mà giai điệu đi qua, chứ không đếm số bước. Mẹo trên khuông nhạc: hai nốt cùng nằm trên dòng hoặc cùng nằm trong khe sát nhau là quãng 3; một trên dòng, một trong khe sát bên là quãng 2; từ dòng lên dòng cách một dòng là quãng 5.
Con số chỉ là tên thô. Đô lên Mi và Đô lên Mi giáng đều là quãng 3 vì cùng đi qua ba tên nốt, nhưng nghe khác hẳn nhau: một sáng, một tối. Để phân biệt, cần phần thứ hai của tên quãng là tính chất, và để biết tính chất, bạn đếm nửa cung.
Bảng quãng theo số nửa cung
Bảng dưới liệt kê các quãng đơn từ 0 đến 12 nửa cung, kèm ví dụ tính từ nốt Đô. Đây là bảng nên chép tay và dán cạnh chỗ tập đàn trong vài tuần đầu.
| Nửa cung | Tên quãng | Ví dụ từ Đô |
|---|---|---|
| 0 | Quãng 1 đúng (đồng âm) | Đô – Đô |
| 1 | Quãng 2 thứ | Đô – Rê giáng |
| 2 | Quãng 2 trưởng | Đô – Rê |
| 3 | Quãng 3 thứ | Đô – Mi giáng |
| 4 | Quãng 3 trưởng | Đô – Mi |
| 5 | Quãng 4 đúng | Đô – Fa |
| 6 | Quãng 4 tăng hoặc quãng 5 giảm | Đô – Fa thăng hoặc Đô – Sol giáng |
| 7 | Quãng 5 đúng | Đô – Sol |
| 8 | Quãng 6 thứ | Đô – La giáng |
| 9 | Quãng 6 trưởng | Đô – La |
| 10 | Quãng 7 thứ | Đô – Si giáng |
| 11 | Quãng 7 trưởng | Đô – Si |
| 12 | Quãng 8 đúng | Đô – Đô cao |
Quy luật dễ nhớ: các quãng 1, 4, 5, 8 chỉ có dạng đúng, không có trưởng thứ. Các quãng 2, 3, 6, 7 có dạng trưởng và thứ, thứ hẹp hơn trưởng nửa cung. Quãng nào rộng hơn dạng đúng hoặc trưởng nửa cung là tăng; hẹp hơn dạng đúng hoặc thứ nửa cung là giảm.
Quãng 6 nửa cung là trường hợp đặc biệt, chia đôi quãng tám, nghe căng và bất ổn. Trong sách cũ nó còn được gọi là quãng ba cung, vì rộng đúng ba cung.
Cách xác định một quãng bất kỳ
Khi gặp hai nốt có dấu hoá, ví dụ Mi giáng lên Sol, làm theo ba bước để khỏi nhầm:
- Bỏ dấu hoá, đếm tên nốt: Mi lên Sol đi qua Mi, Fa, Sol, vậy là quãng 3.
- Đếm nửa cung thật: trên piano, từ phím Mi giáng lên Sol là Mi, Fa, Fa thăng, Sol, tổng cộng bốn nửa cung.
- Đối chiếu bảng: quãng 3 với bốn nửa cung là quãng 3 trưởng.
- Kiểm bằng trùng âm nếu cần: cùng bốn nửa cung nhưng viết Rê thăng lên Sol thì tên nốt đi qua Rê, Mi, Fa, Sol là quãng 4, nên đó là quãng 4 giảm. Âm thanh như nhau, tên khác nhau vì cách viết khác nhau.
Một mẹo tính nhanh là dùng âm giai trưởng của nốt dưới: mọi nốt nằm trong âm giai trưởng tính từ nốt dưới đều tạo quãng trưởng hoặc đúng. Từ Mi giáng, âm giai trưởng có Sol, nên Mi giáng – Sol là quãng 3 trưởng. Nếu nốt trên thấp hơn nốt trong âm giai nửa cung, quãng là thứ (với 2, 3, 6, 7) hoặc giảm (với 4, 5, 8).
Đảo quãng và quãng ghép
Đảo quãng. Đưa nốt dưới lên một quãng tám, hoặc nốt trên xuống một quãng tám, ta được quãng đảo. Đô lên Mi là quãng 3, đảo lại Mi lên Đô là quãng 6. Quy tắc: con số của quãng gốc và quãng đảo cộng lại luôn bằng 9.
Tính chất đổi theo cặp. Trưởng đảo thành thứ, thứ đảo thành trưởng, tăng đảo thành giảm, giảm đảo thành tăng, còn đúng vẫn là đúng. Quãng 3 trưởng đảo thành quãng 6 thứ; quãng 5 đúng đảo thành quãng 4 đúng.
Vì sao đảo quãng hữu ích. Nó giúp tính nhanh quãng rộng: thay vì đếm mười nửa cung cho quãng 7 thứ, bạn đảo thành quãng 2 trưởng chỉ hai nửa cung. Người chơi guitar còn dùng nó để tìm cùng một nốt ở vị trí thuận tay hơn trên cần đàn.
Quãng ghép. Quãng rộng hơn quãng tám gọi là quãng ghép. Quãng 9 là quãng 8 cộng quãng 2, quãng 10 là quãng 8 cộng quãng 3. Bạn sẽ gặp các con số này trong tên hợp âm mở rộng như hợp âm 9, 11, 13. Về nghe, quãng ghép mang tính chất của quãng đơn tương ứng nhưng thoáng hơn.
Quãng thuận và quãng nghịch: vì sao có cặp nốt hoà, có cặp nốt cấn
Khi hai nốt vang cùng lúc, tai người cảm nhận mức độ hoà hợp khác nhau. Truyền thống nhạc lý phương Tây chia quãng thành hai nhóm. Quãng thuận nghe êm, ổn định: quãng 1, quãng 8 và quãng 5 đúng là thuận hoàn toàn, nghe rỗng và vững; quãng 3 và quãng 6 cả trưởng lẫn thứ là thuận không hoàn toàn, nghe đầy và ấm. Quãng nghịch nghe căng, muốn đi tiếp: quãng 2, quãng 7 và các quãng tăng, giảm.
Quãng 4 đúng là trường hợp lưng chừng: đứng một mình nó nghe khá thuận, nhưng trong một số bối cảnh hoà âm cổ điển nó được xử lý như quãng nghịch. Người chơi nghiệp dư không cần đi sâu vào tranh luận này; chỉ cần biết quãng 4 có thể nghe vững hoặc lơ lửng tuỳ chỗ.
Nghịch không có nghĩa là sai. Âm nhạc cần căng và giãn: hợp âm có quãng nghịch tạo lực đẩy, rồi giải quyết về quãng thuận tạo cảm giác về nhà. Hợp âm át bảy chứa một quãng 6 nửa cung chính là lý do nó muốn chuyển về hợp âm chủ. Thẩm mỹ về độ thuận nghịch cũng thay đổi theo thời kỳ và thể loại: nhạc jazz dùng quãng 7, quãng 9 như màu sắc bình thường.
Ứng dụng gần nhất cho người chơi nhạc là hát bè. Hai giọng đi song song cách nhau quãng 3 hoặc quãng 6 nghe ngọt và dễ hát; đi song song quãng 5 hay quãng 8 thì nghe trống, gần như một giọng. Bè quãng 3 phía trên giai điệu là kiểu bè dễ nhất để nhóm bạn bè thử hát cùng nhau.
Quãng trong âm giai và hợp âm: dùng ngay khi chơi
Khi đã gọi được tên quãng, bạn nhìn lại những gì mình đã học dưới một góc khác. Âm giai trưởng thực chất là bảy quãng tính từ chủ âm: 2 trưởng, 3 trưởng, 4 đúng, 5 đúng, 6 trưởng, 7 trưởng, 8 đúng. Âm giai thứ tự nhiên khác ở ba chỗ: quãng 3, quãng 6, quãng 7 đều là thứ. Nhớ theo cách này, bạn dựng âm giai trên bất kỳ nốt nào chỉ bằng cách đếm quãng từ nốt gốc.
Hợp âm cũng là tổ hợp quãng tính từ nốt nền. Hợp âm trưởng là nốt nền cộng quãng 3 trưởng và quãng 5 đúng; hợp âm thứ là nốt nền cộng quãng 3 thứ và quãng 5 đúng. Hợp âm 7 thêm quãng 7. Vì vậy người hiểu quãng chỉ cần biết tên hợp âm là suy ra được các nốt bên trong.
Với giai điệu, nhận ra quãng giúp dò bài nhanh hơn hẳn. Thay vì thử từng phím, bạn nghe "câu này nhảy lên quãng 5 rồi đi xuống từng bậc" và đặt tay đúng ngay. Người chơi sáo, kèn, harmonica, những nhạc cụ thường dò bài bằng tai, hưởng lợi rõ nhất từ kỹ năng này.
Ví dụ giả định: bạn nghe một câu hát bắt đầu ở nốt Sol, nhảy lên một quãng nghe sáng và vững, rồi đi xuống từng bậc. Nếu nhận ra đó là quãng 4 đúng, bạn biết nốt thứ hai là Đô, và chỉ cần dò tiếp các bậc đi xuống từ Đô.
Nhận quãng bằng tai: dùng giai điệu quen làm mốc
Cách phổ biến để luyện tai nghe quãng là gắn mỗi quãng với mở đầu của một giai điệu ai cũng biết. Vài mốc dùng được với người Việt:
- Quãng 2 trưởng đi lên: hai nốt đầu của bài thiếu nhi "Kìa con bướm vàng", cũng là giai điệu "Frère Jacques".
- Quãng 3 trưởng: trong cùng giai điệu đó, nốt thứ nhất và nốt thứ ba, Đô lên Mi.
- Quãng 4 đúng đi lên: hai nốt mở đầu của khúc hành khúc đám cưới quen thuộc trong vở opera "Lohengrin" của Wagner.
- Quãng 5 đúng đi lên: bước nhảy giữa nốt thứ hai và thứ ba của bài "Twinkle Twinkle Little Star", Đô lên Sol.
- Quãng 8 đúng đi lên: bước nhảy lớn ở câu thứ ba của bài "Happy Birthday".
- Quãng 3 thứ và quãng 6: tự chọn mốc từ những bài bạn thuộc nhất; mốc tự tìm thường nhớ lâu hơn mốc được cho sẵn.
Mốc giai điệu chỉ là cái nạng ban đầu. Mục tiêu là nghe hai nốt và nhận ra màu của quãng trực tiếp: quãng 3 trưởng sáng, quãng 3 thứ tối, quãng 2 thứ cấn sát, quãng 5 rỗng vững. Kiểm tra mốc bằng cách đàn thử, vì nhớ giai điệu sai một nốt là mốc sai cả quãng.
Câu hỏi thường gặp
Quãng đi lên và đi xuống có tên khác nhau không?
Không. Đô lên Mi và Mi xuống Đô đều là quãng 3 trưởng. Khi cần nói rõ hướng, người ta thêm chữ "đi lên" hoặc "đi xuống". Luyện tai nên tập cả hai hướng vì cùng một quãng nghe ở hai hướng khác nhau khá nhiều, nhất là với người mới.
Quãng giai điệu và quãng hoà âm khác nhau thế nào?
Quãng giai điệu là hai nốt vang lần lượt, quãng hoà âm là hai nốt vang cùng lúc. Cách gọi tên giống nhau. Quãng giai điệu dễ nghe hơn với người mới vì tai theo dõi được từng nốt; quãng hoà âm khó hơn nhưng quan trọng cho việc nghe hợp âm và hát bè.
Vì sao quãng 4 và quãng 5 gọi là đúng mà không gọi là trưởng?
Vì chúng chỉ có một dạng xuất hiện tự nhiên trong cả âm giai trưởng lẫn âm giai thứ tính từ chủ âm, nên không cần phân biệt trưởng thứ. Lịch sử nhạc lý cũng coi chúng là những quãng thuận cơ bản. Thay đổi chúng nửa cung thì gọi là tăng hoặc giảm.
Người chơi guitar có cách nào nhìn quãng nhanh không?
Có. Vì mỗi ngăn là nửa cung, mỗi quãng thành một hình dạng cố định giữa hai dây kề nhau, ví dụ quãng 5 đúng là lên một dây và lên hai ngăn trên hầu hết các cặp dây. Riêng cặp dây Sol và Si được lên dây lệch nên hình dạng dịch đi một ngăn.
Thuộc bảng quãng rồi mà vẫn hát sai cao độ, tại sao?
Biết tên quãng là kiến thức, hát đúng quãng là kỹ năng phối hợp giữa tai và cơ thanh quản. Hai việc cần luyện riêng: nghe và gọi tên quãng, rồi hát theo một nốt mẫu và kiểm bằng nhạc cụ. Nếu hát lệch kéo dài dù đã luyện, nên nhờ người dạy thanh nhạc nghe trực tiếp.
Quãng tám có phải lúc nào cũng nghe giống hệt nhau không?
Hai nốt cách quãng tám mang cùng tên và hoà vào nhau đến mức nhiều người nghe như một nốt, vì tần số nốt trên đúng gấp đôi nốt dưới. Nhưng chúng vẫn khác về độ cao và màu sắc. Đó là lý do nam và nữ hát cùng giai điệu cách nhau quãng tám vẫn được coi là hát đồng thanh.